15/3/17

Chuyến từ thiện tại Chùa Vạn Đức và Chùa Phật Minh tỉnh Bến Tre ngày 12-03-2017



Chuyến đi lần này nhóm đi hai nơi tại tỉnh Bến Tre: thăm bé Lộc có não bị úng thủy tại Chùa Vạn Đức xã tam hiệp, Bình Đại và sau đó từ thiện tại Chùa Phật Minh, xã Giao Hoà, huyện Châu Thành.

TỪ THIỆN TẠI CHÙA VẠN ĐỨC-XÃ TAM HIỆP-BÌNH ĐẠI-BẾN TRE




Đường đến chùa Vạn Đức phải băng qua phà Tam Hiệp, đi men theo con đường bên phải khoảng 2km, tới nơi nhóm thấy có rất nhiều đoàn từ thiện khác vào tặng tiền cho Chùa để có chi phí lo cho Bé Lộc phần nào.




Bé Lộc, não bị úng Thủy nặng bị gia đình bỏ tại cổng chùa lúc được 1 tháng, các thầy nuôi dưỡng bé đến nay được 8 tháng. Hiện tại bé Lộc nằm cách ly trong phòng riêng biệt và được chăm sóc bởi 1 y tá, bé không thể bú sữa trực tiếp mà được truyền qua đường ống từ mũi đến thực quản.

Thầy Thích Lệ Hiếu trụ trì chùa Vạn Đức, người trực tiếp nuôi dưỡng và lo việc trị bệnh cho bé Lộc, cho biết bé Đức Lộc phải nhận mỗ tổng cộng tới 7 lần (2 lần tại Việt Nam + 5 lần tại Singapor), tuy vậy các bác sĩ cũng đã làm hết sức mình để cứu bé nhưng cuối cùng cũng phải đưa về trở lại Chùa. Cầu mong một phép nhiệm màu đến với bé, trông hình bé ngủ thật bình yên. Nhóm thắp nhang cầu nguyện cho bé và tranh thủ chụp vài hình lưu niệm.




TỪ THIỆN TẠI CHÙA PHẬT MINH–XÃ GIAO HÒA-CHÂU THÀNH-BẾN TRE




Với kinh phí trên 10 triệu, nhóm đã chuẩn bị mang tới chùa gồm: Gạo, Đường, Dầu ăn, Sữa, nước tương,….

Các thành viên sắp xếp hàng từ thiện trong sãnh đường chuẩn bị cho Thầy Hoàng, trụ trì chùa Thiện Phước-Tân Thạnh Đông-Hóc Môn đi cùng với nhóm làm lễ cúng Tam Bảo + từ thiện.



Một số hình ảnh nhóm phát quà cho các trẻ:








Bài Thơ do Sư cô chủ trì chùa Phật Minh sáng tác:

Tranh thủ chụp hình lưu niệm với 2 thầy tại cổng Chùa trước khi ra về:



Xin cảm ơn các sơ Dòng Nữ Tỳ Chúa Giê Su Linh mục, vợ chồng Danh, 2 Sư Thầy đâ đồng hành cùng nhóm và tất cả các bạn trong công ty Arttango đã ủng hộ đóng góp tiền bạc vật chất để nhóm đến trao tận cho chùa hầu góp phần nào giúp cho các trẻ thêm niềm vui và nghị lực để bước đi tiếp trên con đường của cuộc sống.
(Chi tiết danh sách và tiền từ thiện đóng gói xem file riêng biệt)

Bến Tre ngày 12-03-2017
Nhóm Hành Trình Tự Thiện

2/1/17

Chuyến từ thiện tại xã Hòa Ninh-Vĩnh Long ngày 25-12-2016



Trở lại Vĩnh Long vào dịp Giáng Sinh và cuối năm 2016 nhóm được 1 người quen cũ là Anh Hồng hướng dẫn chuyển hàng xuống 6 xe honda ôm để vận chuyển đi qua những cây cầu nhỏ ven con rạch trong ấp để đến các gia đình những người già không chỉ neo đơn mà còn mang trong mình nhiều thứ bệnh: Tiểu đường, cao huyết áp, tim và suy thận ,…và họ chỉ mong chờ được người nhà nuôi dưỡng ngày qua ngày. Theo lời Anh Hồng có cụ già khoảng 1 tháng trước trong khi nhóm đang lập chương trình với Anh Hồng để đến thăm bây giờ cụ đã mất rồi.

Sau đây là những hình ảnh nhóm đến với các gia đình khó khăn:






















Sau hoàn tất xong việc từ thiện 13h30 nhóm được Anh Hồng mời dùng cơm trưa, dùng trái cây với gia đình, ai nấy đều ăn rất nhiều sau đó ra vườn chôm chôm của gia đình anh tham quan và nghỉ ngơi.
Cảm ơn gia đình Anh Hồng cùng các anh xe ôm đã nhiệt tình giúp đỡ chở nhóm đến hỏi thăm và chia sẽ các món quà tới các hộ gia đình khó khăn nghèo. Suốt chuyến đi từ thiện các thành viên nhóm cũng như các anh ai cũng nhiêt tình vui vẻ và cùng một lòng hướng đến công việc ý nghĩa tốt đẹp này. Nhân dịp Giáng Sinh và năm mới sắp đến chúc các anh và gia đình cũng như các thành viên nhóm dồi dào sức khỏe và nhiều niềm vui trong cuộc sống và cũng hy vọng sẽ có dịp được cùng nhau để đến với những hoàn cảnh nghèo khổ tật nguyền khác.

Hòa Ninh-Vĩnh Long 25-12-2016

Chuyến từ thiện tại mái ấm Phan Sinh-Đồng Nai 27-11-2016



Tiếp đón chúng tôi, Quản lý mái ấm Phan Sinh – ông Chu Văn Nhâm cho biết trại hoạt động tới nay đã 18 năm rồi và cách đây 4 năm cơ sở đã đăng ký và được chứng nhận của nhà nước. Trại đang nhận nuôi dưỡng, chăm sóc từ thiện cho 80 trẻ em và khoảng 40 người lớn, người già bị tật nguyền như chậm phát triển, thần kinh, bại não. Tham quan trại,chúng tôi thấy có những trẻ do không ý thức được việc làm của mình khi lên cơn sẵn sàng cấu xé, cắn,.. nên bất đắc dĩ trại phải cột tay chân 1 số cháu để dể dàng quản lý và nuôi dưỡng dưới sự đồng thuận của gia đình.

Tại đây cũng nhờ vào các tình nguyện viện đến chia sẽ và giúp đỡ chăm sóc các em, đây cũng là những tấm lòng cao đẹp đáng trân trọng nhất. Theo lời ông Nhâm, mỗi tháng trại phải chi phí gần 120 triệu để lo cho các cháu và người già tật nguyền, cơ sở thiếu thốn và phải chi phí nhiều vào những đồ tả, vệ sinh,….

Cảm thông cho những hoàn cảnh đáng thương các cháu, những người già tật nguyền và trân trọng tới những tình nguyện viện đã bỏ công sức ra giúp đỡ cho trại, nhóm cũng đã trao lại những món quà từ các nhà tài trợ gữi đến như: Nước mắm, dầu ăn, chà bông, sữa ông Thọ,,..và chúng tôi đã chuẩn bị 40 phần tiền lì xì cuối năm nhưng khi tới do số lượng người nhiều không biết cho ai và ai không cho khi thăm từng khu trại nên nhóm cùng với Soeur cũng gửi toàn bộ số tiền tổng cộng là 7 triệu này đến ông Nhâm để lo cho các em và người già.

Danh sách các nhà tài trợ:
1/Dòng nữ Tỳ Chúa Giê su Linh Mục: 5 triệu
2/Vợ chồng Danh: 2 triệu
3/Cô Phương (việt kiều Mỹ): 200 USD
4/Mẹ của thành viên Lan : 1 triệu
5/Thịnh(TKN): 100,000 VNĐ
6/Thành Viên nhóm hành trình từ thiện (các chi phí còn lại)

Những hình ảnh thăm và chia sẽ của Soeur và nhóm sau đây:


















Hình chụp lưu niệm nhóm với các Soeur:


Trong chuyến từ thiện này nhóm cũng ghé thăm lần 2 gia đình anh Lê Văn Phong để bàn bạc việc hỗ trợ học phí cho con Anh đi học năm 2017, tuy nhiên do gia đình đã có các Cha nhà thờ lo xong rồi nên dù sao nhóm cũng đã thăm hỏi và trao 1 phần quà: Đường, Nước Mắm, chà bông, sữa ông thọ, dầu ăn và 1 thùng mì gói cùng với số tiền mặt do Soeur các thành viên nhóm trao trực tiếp.


Trảng Bom-Đồng Nai, 27-11-2016

2/10/16

Chánh ngữ

Một trong năm giới mà người Phật tử chân chính phải hành trì là tránh xa vọng ngữ. Tích cực hơn, người Phật tử phải nói lời chân thật, biết thủ tín và nói như thế nào làm như thế ấy.

Lời nói chân thật là một trong thập thiện nghiệp mà người hành trì không những đem lại lợi ích cho mình mà còn góp phần xây dựng một xã hội đạo đức. Vì muốn được trật tự, xã hội cần đòi hỏi một số điều kiện trong đó có sự tín nhiệm lẫn nhau nhờ mọi người đều chân thật.

Đoạn kinh sau đây mô tả một người chân thật:

"Ở đây một người thiện nam từ bỏ sự giả dối, xa lánh vọng ngữ, nói lời chân thật dù ở nơi hội họp đứng đắn, giữa đám đông, trong tư gia với bà con thân thuộc, trong nhiệm sở hay khi làm nhân chứng tại pháp đình.... Như vậy, người ấy sẽ không vì cá nhân mình, không vì ai khác, cũng không vì một lợi lạc vật chất mà cố ý nói sai sự thật". (Sāleyyaka Sutta M.I, 228).

Thật ra chánh ngữ không phải chỉ giới hạn trong lời nói chân thật mà còn cần phải:

- Tránh dùng lời phao vu để chia rẽ, hay gây bất hoà giữa người này với người khác, trái lại phải tìm cách đem lại hoà hợp và thông cảm giữa mọi người.

- Tránh dùng lời thô lỗ để hạ nhục kẻ khác, trái lại phải nói lời thanh tao, hoà nhã, lịch sự, lễ độ để an ủi, khuyến khích hay thuyết phục kẻ khác.

- Tránh những câu chuyện phiếm vô bổ, phải nói đúng lúc, hợp lý và hữu ích.

Cũng có trường hợp, khi chúng ta nói chân thật và lễ độ mà vẫn chạm đến tự ái của kẻ khác khiến họ phật lòng. Tuy thế đôi khi cần phải nói sự thật dù có mất lòng nhưng hữu ích. Như vị bác sĩ muốn chữa một vết thương của bệnh nhân đôi khi không thể không gây cho bệnh nhân một chút đau đớn, vì nếu không đụng đến vết thương thì làm sao điều trị được. Vì thế trong kinh Abhayarājakumāra có phân loại lời nói theo chân, thiện và mỹ như sau:
  1. LỜI NÓI CHÂN, MỸ, THIỆN.

    Tức là lời chân thật, khả ái và có lợi cho người nghe. Chữ mỹ ở đây dùng với nghĩa đẹp lòng người, làm cho người hoan hỷ khi nghe. Như trường hợp Đức Phật thuyết pháp, Ngài trình bày chân lý (chân) để chuyển mê khai ngộ cho chúng sanh (thiện) và khi nghe xong thính chúng đều hoan hỷ (mỹ) chấp nhận.

  2. LỜI NÓI CHÂN, THIỆN, KHÔNG MỸ.

    Tức là lời chân thật, có lợi cho người nghe nhưng không làm cho họ vui lòng. Đó là trường hợp "trung ngôn nghịch nhĩ lợi ư hạnh". Lời nói không mỹ ở đây có hai nghĩa: một là lời nói thô lỗ, hai là tuy không thô lỗ nhưng làm cho người nghe khó chịu. Có khi vì lời nói cộc cằn làm cho người nghe nổi giận, nhưng có khi lời nói lễ độ mà vẫn chạm tự ái kẻ khác.

  3. LỜI NÓI CHÂN, MỸ, KHÔNG THIỆN.

    Tức là lời nói chân thật, đẹp lòng người nhưng vô ích. Như kể một chuyện tuy thật và làm cho người nghe vui tai nhưng không đem lại lợi ích gì cả, có khi chỉ làm mất thì giờ hoặc thậm chí còn có hại.

  4. LỜI NÓI CHÂN, KHÔNG THIỆN, KHÔNG MỸ.

    Tức là lời nói chân thật nhưng vô ích và làm người nghe bực mình. Nhiều người bất cứ nghe thấy chuyện thị phi ở đâu cũng đem kể lại cho bạn bè, thân thuộc nghe. Hoặc có người lại thường đem những chuyện đời tư nói với người khác để khoe khoang thành công hay phân bua thất bại của mình. Những chuyện đó tuy là sự thật, nhưng không ích gì cho người nghe, và chỉ làm phiền lòng họ.

  5. LỜI NÓI KHÔNG CHÂN, NHƯNG THIỆN VÀ MỸ.

    Tức là lời không đúng sự thật nhưng có ích lợi và làm người nghe hoan hỷ. Như trường hợp vì cứu người nào đó (thiện) mà phải nói dối (không chân) và nhờ nói khéo léo nên người nghe vui lòng (mỹ).

  6. LỜI NÓI KHÔNG CHÂN, KHÔNG THIỆN NHƯNG MỸ.

    Tức là lời nói giả dối, vô ích nhưng người nghe lại thích. Nhiều người nói ba hoa, khoác lác vô tích sự, thế mà vì có tài ăn nói khéo léo, thông suốt nên ai cũng thích nghe.

  7. LỜI NÓI KHÔNG CHÂN, KHÔNG MỸ NHƯNG THIỆN.

    Tức là lời nói dối, khó chịu, nhưng có lợi cho người nghe. Ví dụ như một người mẹ muốn cho con mình học giỏi (thiện) đã la mắng (không mỹ) và dọa đứa bé nếu không học thuộc bài sẽ bị đuổi ra khỏi nhà (không chân).

  8. LỜI NÓI KHÔNG CHÂN, KHÔNG THIỆN, KHÔNG MỸ.

    Là lời nói giả dối, vô ích và làm người nghe bực tức. Như trường hợp nói vu khống, nhục mạ, hoặc nói thêu dệt để chia rẽ người khác. Đó là lời nói của người dối trá, hung ác, và thô lổ.
Trong tám cách trên, cách thứ nhất và cách thứ hai được Đức Phật cũng như các bậc hiền nhân khuyến khích. Kinh Abhayaràjakumàra dạy tiếp rằng: "Người nên nói lời hợp thời mà người biết là đúng với sự thật, xác đáng, hữu ích, có thể chấp nhận được và làm cho kẻ khác hoan hỷ (loại thứ nhất). Người cũng có thể nói lời hợp thời mà người biết là đúng với sự thật, xác đáng, hữu ích, có thể chấp nhận đuợc tuy không làm cho kẻ khác hoan hỷ (loại thứ hai). Người không nên nói lời giả dối, và cần phải tìm sự thật, nói sự thật vì hành động đó nâng cao hạnh phúc cá nhân của người cũng như sự điều hoà và tiến bộ xã hội". Trong đoạn kinh khác Đức Phật mô tả lời nói của bậc thiện trí với năm điều kiện:
  1. Phát biểu đúng lúc (Kālavādī):

    Như chúng ta đã thấy ở trên, có khi một lời chân thật nhưng không được phát biểu đúng lúc thì thành ra vô ích hoặc làm cho người khác bực mình. Người thiện trí phải tế nhị để áp dụng lời nói của mình đúng chỗ, đúng lúc.

  2. Hợp với sự thật (Bhūtavadī):

    Bậc thiện trí thức nói một lời phải dựa trên sự thật, không ngụy biện, không lừa dối. Tuy vậy nói sự thật chưa đủ, cần phải có điều kiện sau đây bổ túc:

  3. Đem lại lợi ích (Atthavādī):

    Lời nói phải có mục đích và ý nghĩa của nó, dù là lời nói chân thật nhưng không có mục đích đem lại lợi ích cho ai, thì đó cũng là lời nói nhảm nhí, vô dụng.

  4. Thích ứng với đạo lý (Dhammavādi):

    Dhamma ở đây có nghĩa là đạo lý. Lời nói hợp đạo lý có nghĩa là phải hợp lý, hợp tình và hợp với chánh pháp.

  5. Hợp với đạo đức (Vinayavādi):

    Giá trị của lời nói còn phụ thuộc tính cách đạo đức của nó. Nếu một lời nói có đủ bốn yếu tố trên nhưng không hợp với luật pháp hay luân thường đạo lý thì vẫn nguy hiểm. Trong phần phân tích tám lời nói trên, chúng ta dùng chữ thiện với nghĩa hữu ích. Nhưng đôi khi có lợi ích chưa hẳn là thiện, như khi nói trục lợi, vụ lợi người ta thường dùng với nghĩa bất thiện. Vì vậy lời nói thiện phải vừa có ích vừa lương thiện, nghĩa là phải hợp với đạo đức nữa mới được.
Tóm lại, lời nói có ảnh hưởng vô cùng quan trọng không những đối với đời sống hạnh phúc của mỗi cá nhân mà còn có thể định đoạt được cả sự an nguy của xã hội. Lời nói của một nhân vật có uy tín bao nhiêu lại càng phải thận trọng bấy nhiêu. Chính vì thế mà Đức Phật đã đưa chánh ngữ vào Bát Chánh Đạo, con đường dẫn đến giải thoát giác ngộ.

Trích Con đường hạnh phúc - Viên Minh & Trần Minh Tài
http://www.tuvienquangduc.com.au/coban/20cdhp17.html

5/9/16

Thuần hóa tâm hồn

Ý là kẻ lý giải về hoàn cảnh của chúng ta

Chính cách lý giải của chúng ta về một sự kiện nào đó sẽ quyết định chúng ta sẽ tiếp nhận sự kiện đó như thế nào. Mặc dù thường thường chúng ta đều cho rằng chúng ta đã thấy rõ ràng chính xác là như vậy nhưng những cảm nhận của chúng ta thực sự đã bị lược qua màn lý giải của tâm ý và đã bị nhuốm màu theo cách phóng ảnh của tâm ý chúng ta.

Thí dụ khi hai người gặp ông Trần, một người thích ông và người kia thì không thích. Người này nhận xét ông Trần là có ý tứ, thông minh và có óc hài hước. Người kia thì cho rằng ông Trần là một người hay cợt nhả người khác, có đầu óc cạnh tranh và không màng đến cảm xúc của người khác. Cả hai đều nghĩ rằng họ đã thấy đúng về ông Trần là như vậy. Nếu thấy đúng, thì cả hai phải thấy ông Trần như nhau. Rõ ràng là họ nghĩ về ông Trần với những quan điểm khác nhau.

Cả hai người đều nghe những lời của ông Trần nói nhưng mỗi người lại lý giải nội dung lời nói một cách khác đi. Tâm ý của mỗi người phóng nhanh qua một quá trình từ nhận thức (âm thanh hay biểu hiện mà mỗi người nhận được qua các giác quan) đến kết luận (ý nghĩa của những dữ liệu đã được xử lý).

Như vậy, một người cảm nhận rằng những cách đùa của ông Trần là hóm hỉnh và có ý tốt nên nghĩ: "Ông Trần là một người tốt. Tôi thích thân cận với ông ta". Về sau lúc nào anh này cũng xem ông Trần là bạn và tin rằng sẽ vui vẻ với nhau. Chị kia thì lý giải cách khác cho rằng lời nói đùa của ông Trần là biếm nhẻ nên nghĩ: "Ông Trần là kẻ tự thị, tôi không thích ông ta." Về sau lúc nào chị kia cũng xem ông Trần là kẻ không đáng ưa và có tâm trạng khinh ghét.

Cả hai đều tưởng rằng điều họ nghĩ về ông Trần là đúng. Nhưng thật ra nhận thức của hai người về về ông ấy đều đã được tiến hành thông qua bức màn của tâm ý hay của những quan niệm có trước. Những phẩm chất tốt hay xấu, đáng mến hay đáng ghét của ông Trần đều được tạo nên bởi những phóng ảnh của ông Trần hiện ra trong tâm ý của người gặp ông. Tự thân ông Trần không có và không thuộc về những phẩm tính đó.

Cách mà chúng ta lý giải về một tình cảnh sẽ quyết định cảm nhận của chúng ta về tình cảnh đó. Chúng ta có thể nhìn người mẹ của chúng ta và nghĩ rằng: "Mẹ lúc nào cũng bảo chúng ta việc này việc kia. Mẹ có nhiều yêu cầu quá." Sau đó, mỗi lần gặp bà chúng ta không cảm thấy thoải mái.

Ngược lại, chúng ta có thể suy nghĩ: "Mẹ đã sanh thân chúng ta ra. Mẹ đã săn sóc cho chúng ta suốt thời còn trong nôi, lúc mà chúng ta hoàn toàn không có thể tự mình làm được gì cả ngay cả việc ăn uống của bản thân. Mẹ đã dạy cho chúng ta những điều hay lẽ phải." Như vậy người mẹ là hiện thân của một trái tim thương yêu. Mỗi lần gặp là mẹ luôn tỏa rạng tình thương và chúng ta cảm thấy thương mẹ.

Vì chúng ta lý giải một số hành vi của những người khác là tổn hại nên chúng ta dán nhãn "kẻ đối nghịch" cho họ. Từ đó về sau trong đôi mắt của chúng ta họ là những kẻ đối nghịch. Cũng vậy, vì chúng ta dán nhãn "tử tế" cho một số hành vi của người khác và xem họ là những người bạn nên từ đó về sau trong đôi mắt của chúng ta những người đó là bằng hữu. Bằng hữu hay kẻ đối nghịch thật sự phát xuất từ tâm ý của chúng ta. Chính chúng ta tạo ra. Sau khi tạo ra bằng hữu và kẻ đối nghịch bằng sức mạnh của tâm ý, chúng ta luyến ái bạn và cố gắng làm hại kẻ đối nghịch. Thật ra chúng ta đã luyến ái và thù ghét những cái mà chính tâm ý chúng ta đã tạo ra.

Chúng ta lý giải về hoàn cảnh và những con người liên quan đến chúng ta như thế nào là tùy vào mức độ thanh tịnh của tâm ý chúng ta. Giống như một sự vật phản chiếu trên một tấm gương dơ bẩn thì bức ảnh đó u ám và không khả ái, cũng như vậy khi bị phóng ảnh qua một tâm ý ô nhiễm với những trạng thái nhiễu loạn và những dấu ấn nghiệp lực đen tối thì hình ảnh của một sự vật cũng u ám và không khả ái. Nhưng nếu như sự vật đó được phản chiếu qua một tấm gương không tì vết thì hình ảnh thu nhận sẽ trong sạch và xinh đẹp. Giống như vậy, qua cảm nhận của một tâm ý thanh tịnh thì bất cứ sự vật gì cũng dễ thương cả.

Một số người mắc bệnh tâm lý nên cứ ngỡ rằng những người xung quanh đang rắp tâm hại họ. Bị khủng hoảng vì sợ hãi, họ còn thấy có những hình ma bóng quế mà thật ra không có gì cả. Mặc dầu họ cứ tin tưởng rằng những gì họ thấy là đúng nhưng chúng ta không thấy như vậy. Do những hành động khác nhau trong quá khứ và chức năng hoạt động của trạng thái tâm lý nhiễu loạn hiện tại mà có sự khác nhau như thế.

Ðối với một người đã tiến xa trên con đường giác ngộ thì thế gian này là thanh tịnh. Ðối với một người mà tâm hồn chứa đầy sự sân hận thì thế gian tồi tệ này là cảnh địa ngục. Thế gian này tự nó không phải là đầy niềm vui hay đầy nỗi khổ và cảm nhận của chúng ta về nó tùy thuộc vào hành vi mà chúng ta đã làm trong quá khứ và tùy thuộc vào cách mà chúng ta cảm nhận nó trong hiện tại. Cảnh địa ngục và cảnh thanh tịnh là do tâm thức của chúng ta tạo tác. Tâm thức của chúng ta là đầu nguồn, là kẻ tạo dựng ra những cảm nhận của chúng ta.

Biết như vậy chúng ta luôn nhận thức rằng phương pháp duy nhất để đạt được một trạng thái hạnh phúc hoàn hảo và lâu bền là làm cho tâm ý của chúng ta thanh tịnh, tức là không còn những trạng thái tâm lý nhiễu loạn, những dấu ấn và những nhơ uế do nghiệp cũ của chúng ta để lại. Chúng ta phải có trách nhiệm thực hiện việc này và chúng ta có thể thực hiện được. Một đoạn thi ca Phật giáo hiện đại dựa trên kinh Pháp Cú đã viết như sau:

Do chúng ta làm nên điều quấy,
Do chúng ta làm nên nỗi đau.
Do chúng ta dừng tay tội lỗi
Do chúng ta thanh tịnh nhiệm mầu

Không người nào cứu rỗi được ta
Không ai có thể, không ai đâu.
Ðức Phật chỉ chỉ đường dẫn lối
Còn chúng ta phải bước chân mau.

Chư Phật chỉ cho chúng ta con đường cần phải đi. Chư Phật biết con đường vì chính các ngài đã đi qua con đường đó. Những vị hiện giờ là chư Phật trước kia cũng đã từng bị rối ren mù mờ và khó khăn như chúng ta. Tuy nhiên, nhờ đi theo con đường này mà chư vị đã làm thanh tịnh được tâm ý và phát triển đến chỗ viên mãn những phẩm chất cao thượng nhất của con người và trở thành những vị Chánh Ðẳng Giác. Chúng ta cũng có thể làm y như vậy.

Chư Phật hướng dẫn chúng ta, chúng ta phải làm theo sự hướng dẫn đó. Thầy giáo có thể dạy chúng ta nhưng thầy giáo không thể học dùm cho chúng ta; cũng vậy, chư Phật có thể hướng dẫn chúng ta phương cách thực hành nhưng chính chúng ta phải là người thực hành. Một bài kinh nói rằng:

Ðể rửa trôi đi những nặng nề ác trược
Chư Phật đâu thể "sái tịnh" bằng giọt nước;
Ðể tẩy trừ niềm đau và nỗi khổ
Chư Phật đâu thể dùng bàn tay ấn quyết;
Chư Phật cũng đâu thể nào "chuyển khoản"
Sự giác ngộ sang "tài khoản" của chúng sinh.
Ðể độ thoát vạn loại hàm linh.
Chư Phật chỉ truyền dạy con đường như thật.

Trong khi đạo Phật nhấn mạnh trách nhiệm mà mỗi cá nhân phải tự làm, điều đó không có nghĩa là chúng ta đơn thân độc hành trên con đường đạo. Chúng ta có thể nương tựa vào sự hướng dẫn và phấn khởi với Ngôi Tam Bảo: chư Phật, Giáo PhápTăng-già.

Chư Phật là những vị đã thanh lọc hoàn toàn tất cả sân hận, tham nhiễm, u mê và vị kỷ ra khỏi tâm thức; đã phát triển viên mãn tất cả những phẩm tính tốt đẹp như tâm từ bình đẳng, lòng bi thương xót và trí tuệ soi sáng.

Giáo pháp hay giáo lý là những miêu tả về thực tại như thật cùng với những trạng thái và trường hợp chấm dứt tình trạng rối khổ do vô minh gây nên. Theo nghĩa phổ thông thì giáo pháp là những lời dạy của Ðức Phật dẫn dắt chúng ta nhận chân ra thực tại như thật.

Tăng-già là nói đến những vị đã nhận ra được thực tại vô ngã, cái thực tại mà trong đó không có một cái ngã tự nó tồn tại một cách độc lập. Những vị đã tiến xa trên con đường giải thoát và giác ngộ này có thể là tăng ni mà cũng có thể là cư sĩ tại gia. Nhưng theo nghĩa phổ thông thì tăng-già là đoàn thể của các vị tăng ni, những người đã dành hết cuộc đời của mình cho việc tu tập bản thân và làm lợi lạc cho người khác.

Theo sách THUẦN HÓA TÂM HỒN (Thupten Chodron - Nguyên tác: Taming the Monkey Mind)

url: http://thuvienhoasen.org/a10312/thuan-hoa-tam-hon